Cõi Chết
James Joyce
Tháng 7 năm 1998 Hội đồng cố vấn của Modern Library, một bộ
phận của nhà xuất bản Random House, gồm 10 thành viên trong đó có một phụ nữ đã
bỏ phiếu chọn một danh sách gồm 100 tiểu thuyết hay nhất viết bằng Anh Ngữ của
thế kỷ 20 (Newsweek, 3 Aug. 1998, "Battle of the Books"). Trong số 100 tiểu thuyết được chọn có 6 tác phẩm được viết trong 25
năm qua. Cuốn Ulysses của James Joyce, một nhà văn người Áí nhĩ lan xuất bản năm 1922 đứng đầu danh sách. Cuối cùng là cuốn The Magnificent Ambersons của Booth Tarkington
xuất bản năm 1918.
Không phải nhà văn nào cũng đồng ý với lựa chọn này, nhưng
ít nhất sự lựa chọn cho chúng ta một tiêu chuẩn tương đối giúp giới thưởng
ngoạn văn học quan sát một phần sinh hoạt văn học của thế kỷ này.
Riêng nhà văn James Joyce có 3 tác phẩm
được chọn trong số 100. Ngoài cuốn
Ulysses là cuốn A Portrait of the Artist As a Young Man xuất bản năm 1916, sắp
hạng 3 và cuốn Finnegans Wake xuất bản năm 1939 sắp hạng 77.
James Joyce sinh tại thành phố Dublin, Ái nhĩ lan năm 1882
và là người độc nhất trong gia đình được ăn học đến nơi đến chốn, Năm 16 tuổi
ông vào đại học Dublin và tốt nghiệp năm 20 tuổi. Lúc đó
James Joyce đã được biết đến qua bài bình luận về Ibben ông viết đăng trên tờ
Fortnightly Review có uy tín trong giới văn học Anh. Năm 1904 James
Joyce rời nước qua lục địa Âu châu sống ở Paris, Zurich, Trieste sinh nhai bằng
nghề dạy Anh Ngữ, và sống trong nghèo túng cho đến năm 1919 ông được ông
Harriet Weaver vì mến tài giúp đỡ một số tiền lớn. Lúc này
James Joyce đã nổi tiếng trong giới văn học Âu châu. Việc
xếp cuốn Ulysses của ông lên hàng đầu của các tác phẩm viết bằng Anh ngữ hay
nhất của thế kỷ dù chỉ là một lựa chọn tương đối đã xác nhận văn tài của ông.
Chuyện ngắn "The Dead" tôi dịch sau đây ông viết
năm 25 tuổi (khi Anh quốc còn đô hộ Ái nhĩ lan, một
quốc gia có hai tôn giáo, hai ngôn ngữ do ảnh hưởng của người Anh) và được xem
là một trong những chuyện ngắn xuất sắc nhất của ông. James
Joyce qua đời năm 1941, hưởng thọ 59 tuổi.
_______
Lily, cô con gái của người quản gia tiếp
khách không ngớt. Treo
nón mũ và áo choàng của người này chưa xong chuông cửa đã reo, cô phải vội chạy
ra mở cửa cho một người khách khác. Cũng may Lily không phải lo tiếp các
bà. Dì Kate và dì Julia đã cho biến cải một phòng tắm trên
gác làm chỗ để nón mũ cho phái nữ và lo luôn việc tiếp khách. Dì Kate và dì Julia cười nói tíu tít với khách, thỉnh thoảng ngoái
cổ xuống thang hỏi Lily ai vừa tới.
Dạ vũ hằng năm của nhà họ Morkan là một
dịp vui lớn trong vùng. Ai cũng đến tham dự. Họ hàng bà con ở xa về, bạn bè thân
thiết, thành viên trong ca đoàn của dì Julia, học trò lớn tuổi của dì Kate và
có cả học trò nhỏ tuổi hơn của Mary Jane, cháu cưng của hai bà. Đêm dạ vũ năm
nào cũng rất thành công, mỗi năm một kiểu cách riêng, ngay cả sau khi Pat,
người em trai độc nhất của hai bà chết, Kate và Julia bỏ ngôi nhà xinh xắn ở
Stoney Batter dọn về một ngôi nhà nhỏ hơn trên đảo Usher thuê của ông Fulham để
nuôi Mary Jane. Tính ra cũng gần 30 năm, khi Mary Jane còn là
một cô gái thích mặt váy ngắn nổi tiếng trong vùng nhờ tài chơi đàn ống ở nhà
thờ. Tốt nghiệp trường mỹ thuật, Mary Jane mở lớp dạy
nhạc. Học trò của cô thuộc các gia đình quí phái trong
vùng như
Đêm dạ vũ ba cô chủ có khó tính đòi hỏi
này nọ một chút cũng dễ hiểu. Hơn mười giờ rồi mà chưa thấy vợ chồng Gabriel đến. Còn
Freddy Malins, sợ nhất là uống rượu đâu ngà ngà say mới đến. Mấy bà chủ ngại
học trò của Mary Jane thấy Freddy Malins lúc chàng say, lúc say chàng ta ăn nói rất bừa bãi. Freddy Malins thường
đến trễ, nhưng không biết sao hôm nay Gabriel cũng trễ. Cách hai ba phút hoặc Kate, hoặc Julia ngoái cổ xuống lầu hỏi Lily
Gabriel hay Freddy đã tới chưa.
- Chào ông Conroy, Lily vừa mở cửa vừa chào Gabriel, dì Kate
dì Julia tưởng ông bà không tới được, và xin chào bà Conroy.
- Tôi cũng tưởng không tới được, Gabriel hóm hỉnh nhìn vợ
trả lời, mấy dì đâu có biết bà vợ tôi sửa soạn sắc đẹp mất ba giờ đồng hồ.
Gabriel đứng nơi ngưỡng cửa phủi tuyết
dính vào giày, trong khi Lily dẫn bà vợ đến chân cầu thang nói vọng lên trên.
- Dì Kate, bà Conroy đã đến.
Kate và Julia vội chạy xuống thang lầu hôn
bà Conroy rối rít, nói tưởng bà ta bị tuyết chôn rồi và hỏi Gabriel có đến
không.
- Tôi đến có trễ lắm đâu, dì Kate. Dì lên trước đi, tôi sẽ theo ngay, vừa nói bà Conroy vừa gọi Gabriel nhanh lên.
Gabriel tiếp tục phủi tuyết dính trên vai
áo choàng và mũi giày trong khi ba người phụ nữ bước lên phòng cất áo mũ, vừa
cười vừa nói oang oang. Gióù lạnh buốt lùa vào phòng qua khe cửa vừa đóng.
- Tuyết lại rơi phải không, thưa ông Conroy? Lily hỏi.
Cô đi trước vào phòng nhỏ bên cạnh dùng để vắt áo mũ, sẵn
sàng giúp Gabriel cởi chiếc áo choàng. Gabriel mĩm cười cung
cách xưng hô của Lily, chàng ngước nhìn cô gái duyên dáng. Lily thon nhỏ, đang độ nẩy nở, tóc vàng, nước da ngăm ngăm.
Ánh sáng bập bùng nơi lò sưởi tỏa ra làm nước da cô ngăm hơn. Gabriel biết Lily
từ hồi cô còn là một cô bé tí xíu hay ngồi dựa vào bậc thang gác gỗ chơi búp
bê.
- Vâng, cô Lily, tuyết lại xuống, ít nhất suốt đêm nay.
Gabriel ngước nhìn trần nhà rung rinh theo bước chân
trên sàn phòng nhảy trên lầu, lắng nghe tiếng đàn piano một lúc rồi quay nhìn
Lily đang xếp áo choàng của chàng đặt lên kệ gỗ.
- Cô còn đi học không Lily? Gabriel thân
mật hỏi.
- Thưa ông, không. Năm nay tôi đã nghỉ
học.
- Gabriel vui vẻ, vậy chúng tôi sắp được ăn
cưới của cô với người thanh niên trẻ tuổi đó rồi.
Lily ngoái nhìn Gabriel, trả lời giọng
không vui.
- Đàn ông bây giờ chỉ biết ba hoa để chiếm
đoạt thôi, thưa ông.
Gabriel biết mình lỡ lời. Chàng tránh đôi mắt của Lily, cúi xuống
dùng chiếc khăn quàng cổ đập mạnh vào đôi giày da còn bám tuyết.
Gabriel còn trẻ, nước da như sạm nắng,
lưỡng quyền cao nhô ra thi đua với chiếc trán vồ điểm những vết đỏ không hình
dáng. Đôi mắt sáng như thấu suốt mọi chi
tiết chung quanh ẩn dưới đôi kính gọng vàng lóng lánh.
Mái tóc đen dày chải lật ra sau, nằm hai bên một đường ngôi ở
giữa, uốn cong lên dưới vành mũ.
Phủi đôi giày thật bóng xong, Gabriel đứng lên kéo thẳng
chiếc áo gi-lê trên thân hình đẫy đà, xong lấy trong túi một đồng dúi vào tay Lily.
- Cô Lily, tôi có chút ít này, mùa Giáng sinh đến rồi, vừa
nói vừa rảo bước đến bậc thang dẫn lên lầu.
- Lily vừa chạy theo Gabriel vừa
nói, không, thưa ông, tôi không nhận đâu.
- Gabriel đi như muốn chạy vừa khoác tay
ra sau vừa bảo, mùa Giáng sinh, mùa Giáng sinh mà cô Lily.
Thấy Gabriel đã bước lên mấy bậc thang Lily đành nói với theo.
- Cám ơn ông vậy.
Bản đàn khiêu vũ chưa dứt, Gabriel đứng đợi ngoài cửa lắng tai nghe tiếng động nhè nhẹ trên sàn. Gabriel còn áy náy về
thái độ của Lily lúc nãy, hai tay sửa áo và nơ cổ để
cố quên. Chàng rút trong túi áo gi-lê một mảnh giấy ghi đại ý
những gì chàng sẽ phát biểu trong bữa cơm hôm nay. Chàng ghi vài ý của
Robert Browning nhưng do dự không biết có nên dùng không, sợ cử tọa không hiểu.
Nhắc đến Shakespeare hay Melodies chắc ai cũng biết. Nghe
tiếng chân nhảy trên sàn, Gabriel đoán biết đa số khách không thuộc lớp tuổi và
giáo dục của ông. Đem văn thơ nói chuyện với họ là một sự lố bịch và họ
có thể nghĩ ông muốn khoe sự hiểu biết của ông. Ông sẽ thất
bại với giới trẻ như câu hỏi vô ý tứ vừa rồi với Lily. Ông nghĩ những gì đã soạn sẵn không dùng được.
Vừa lúc đó hai bà dì và vợ ông từ phòng
vắt áo của các bà bước ra. Hai dì trộảng
tuỗi, ăn mặt đúng cách. Dì Julia cao hơn dì Kate mấy
phân, tóc bạc phủ xuống quá vành tai, da mặt trắng,
sậm hơn tóc, vết nhăn trông rõ trên khuôn mặt rộng. Dì còn
khỏe, lưng thẳng, nhưng đôi mắt không nhanh nhẹn, đôi môi trề làm cho dì có
dáng dấp của một phụ nữ không biết mình đang ở đâu và làm gì. Dì Kate tuy không khỏe bằng nhưng sắc sảo hơn. Khuôn mặt còn
đầy sức sống dù có những vết nhăn, mái tóc vẫn còn giữ được màu nâu của tuổi
trẻ, quấn theo kiểu phụ nữ lớn tuổi.
Hai bà vui mừng hôn Gabriel. Gabriel là cháu cưng của hai bà, con trai
của chị Ellen đã qua đời. Bà Ellen làm dâu dòng họ
Conroy giàu có ở Port & Docks.
- Gretta nói với dì hôm nay cháu sẽ không dùng xe ngựa về khách sạn phải không, dì Kate hỏi.
- Dạ phải, Gabriel vừa đáp vừa nhìn vợ, nhớ năm trước ngán
quá phải không em? Chắc dì còn nhớ Gretta đã bị lạnh như thế
nào. Cửa xe kêu lạch cạch suốt đoạn đường, và
sau khi qua khỏi Merrion gió đông lùa vào xe lạnh không chịu được. Vui thì có
vui, nhưng Gretta sau đo bị cảm cúm.
Dì Kate vừa nghe vừa gật gù.
- Gabriel, nhưng cũng vậy thôi. Cẩn thận
là tốt, nhưng không phải lúc nào chúng ta cũng cẩn thận được. Dì Kate nói.
- Nhưng với Gretta, Gabriel nói, nếu để tùy ý thì trời tuyết
cũng vẫn muốn đi bộ thôi.
Gretta cười, tiếp lời Gabriel.
- Dì Kate, đừng để ý những gì ảnh nói. Ảnh
rất nhiều chuyện. Ảnh bắt Tom đeo kính mầu lục ban đêm, tập tạ và bắt
Eve ăn cháo bắp trộn sữa. Tội nghiệp
Eva, thấy cháo đã muốn ói nói gì đến ăn. Chưa hết, nếu dì đoán được ảnh
muốn cháu ăn mặc như thế nào. Ảnh
bảo cháu mang ủng mỏng bọc ngoài đôi giày. Ảnh nói
trời tuyết trên lục địa ai cũng dùng. Mang ủng mỏng
bọc giày thì còn gì là đôi chân của phụ nữ. Hôm nay
ảnh bắt cháu mang, cháu nhất định không mang. Cứ đà
này ảnh sẽ mua cho cháu một bộ đồ thợ lặn để dùng khi trời mưa.
Vừa nói Gretta vừa cưới ngất nhìn chồng
đang nhìn nàng dắm đuối từ trang phục đến khuôn mặt, mái tóc. Hai bà dì cũng cười thích thú với lối nói
diễu cợt của Gretta.
- Gretta, dì Kate bỗng hỏi, mấy đứa nhỏ ở nhà một mình cháu
có lo không?
- Dạ, một đêm thì không sao. Hơn nữa còn
có Bessie coi tụi nó.
- Dì hỏi để yên bụng thôi, dì Kate nói. Không
gì tốt bằng có một người giúp việc tin cậy. - đây
dì có Lily. Có điều gần đây không biết vì sao cô ta hơi đổi
tính.
Gabriel định hỏi thêm chuyện đó, bỗng thấy
dì Kate ngừng nói ngoái cổ xuống cầu thang nhìn Julia đang chạy xuống lầu. Dì hỏi, Julia, Julia em đi đâu vậy.
Cái gì đó?
Julia bước lên, không vội vã, trả lời:
- Freddy tới
Vào lúc đó có tiếng vỗ tay vọng ra
từ phòng khiêu vũ. Tiếng đàn piano kết thúc bản nhạc vanxơ.
Cửa phòng dạ vũ mở, nhiều cặp nam nữ bước ra. Dì Kate
kéo Gabriel ra một bên ghé vào tai dặn dò:
- Gabriel, cháu giúp dì xuống tiếp Freddy. Nếu thấy hắn say
đừng cho hắn lên, phiền lắm. Dì chắc hắn say.
Gabriel đứng trên bậc thang nghiêng tai
vào tay vịn cầu thang để nghe cho rõ. Có tiếng hai người đang
nói chuyện với nhau dưới lầu. Nhận ra tiếng cười của
Freddy Malins, Gabriel vội vã chạy xuống, đế giày ròn rã trên bậc thang.
- Có Gabriel ở đây dì yên tâm, bà Kate nói với Gretta. Quay
sang Julia, Kate nói, cô Daly và cô Power đang khát nước. Cám
ơn Daly, cô đàn bản vanxơ hay quá. Cô làm cho buổi dạ
vũ thêm phần giá trị.
Một người đàn ông cao lớn da mặt nhăn,
ngăm ngăm đen, bộ râu cứng đã ngả màu, từ phòng dạ vũ bước ra với một người phụ
nữ, nói với dì Kate.
- Bà Morkan, chúng tôi có thể dùng nước giải khát không?
- Dì Kate nói với Julia, đây là ông Browne và cô Furlong. Em đưa họ và các cô Daly, Power vào phòng giải khát luôn.
- Tôi là người đàn ông của phụ nữ, ông Browne nói, môi mím
chặt làm bộ râu dựng lên như bàn chải, cười toe toét làm nổi bật thêm các vết
nhăn trên mặt. Bà Morkan, bà có biết tại sao phụ nữ thích tôi không?
Chưa nói hết câu ông Browne thấy dì Kate
bỏ đi chỗ khác, ông vội đưa ba người phụ nữ vào phòng giải khát. Giữa phòng có hai bàn hình vuông kê sát nhau. Dì Julia và người quản gia đang trải và vuốt thẳng tấm khăn bàn.
Góc phòng có một bàn nhỏ để một chồng đĩa, li, dao, muỗng,
nỉa. Trên cây đàn piano sát tường có thịt nguội và thức uống, rượu
li-cơ, rượu vang, nước ngọt và bánh. Gần đó hai người trẻ
tuổi đứng uống nước ngọt trước một bàn nhỏ khác.
Ông Browne đưa ba người phụ nữ đến chỗ để
nước uống và rượu. Ba
người phụ nữ nói không uống được rượu, ông Browne mở ba chai nước chanh lịch sự
mời. Xong tự rót đầy một ly whiskey, nhắp nhắp thử
rượu rồi nốc cạn ly. Hai người trẻ tuổi nhìn ông
Browne ra vẻ thán phục.
- Xin đừng lấy làm lạ, ông vừa cười vừa nói, bác sĩ bảo
whiskey là thuốc của tôi.
Ba người phụ nữ ngặc nghẹo cười theo
ra chiều khoái trá. Một cô bạo dạn hỏi:
- Này ông Browne, ông nói vậy chớ chẳng có bác sĩ nào viết
toa như vậy phải không?
- Chưa chắc, cũng tùy bác sĩ thôi, ông Browne trả lời.
Ông Browne vừa nói vừa dí mặt nóng hổi gần
mặt mấy người phụ nữ trẻ tuổi, giọng nói thuộc giới hạ lưu
Một phụ nữ hồng hào, mặc một chiếc áo ngắn sặc sỡ bước vào
phòng vỗ tay nói lớn:
- Ai muốn nhảy quadri, ai muốn nhảy quadri?
- Chúng ta cần hai nam và ba nữ, Mary Jane. Dì Kate theo sau dặn với.
- Đây rồi, ông Bergin và ông Kerrigan,
Mary Jane vui mừng nói, ông Kerrigen, ông nhảy với cô Power nhé? Còn cô Furlong, tôi giới thiệu cô nhảy
với ông Bergin, như vậy tạm đủ rồi.
- Chưa đủ Mary Jane, cần ba nữ lận.
Trong khi Bergin và Kerrigan mời cô Power
và Furlong vào phòng khiêu vũ, Mary Jane hỏi cô Daly.
- Cô Daly, cô đã đánh hai bản đàn mệt rồi tôi không dám mời,
nhưng hôm nay thiếu phụ nữ, cô nhảy quadri nhé?
- Không sao đâu, tôi còn sức mà, cô Morkan.
- Tôi có một bạn nhảy lý tưởng cho cô, ông Bartell D'Arcy,
người hát giọng cao trong ban nhạc. Nhưng ông ta sẽ hát sau.
Cả thành phố
- Giọng của ông D'Arcy thì tuyệt, dì Kate phụ họa.
Nghe piano trổi nhạc Mary Jane dẫn mọi
người bước nhanh ra khỏi phòng. Họ vừa ra dì Julia bước vào, vừa đi vừa ngoái nhìn phía thang lầu.
- Gì vậy Julia? Dì Kate hỏi có vẻ lo lắng.
Ai vậy?
Julia, hai tay ôm một chồng giấy
lau tay, quay nhìn dì Kate, hơi ngạc nhiên về câu hỏi của chị.
- Có gì đâu Kate. Freddy tới và Gabriel
đang mời ông ta lên.
Ngay lúc đó Gabriel và Freddy Malins bước
vào. Freddy Malins,
trạc bốn mươi, thân hình chắc chắn như Gabriel, đôi vai gọn. Mặt đầy, da hơi tái, mũi thấp nằm giữa hai trái tai đỏ ửng. Dáng dấp hơi thô, trán cong núp sau đôi lông mày rậm, môi mọng hơi
trề. Mí mắt lớn che một phần đôi mắt và bộ tóc thưa
lộn xộn làm cho ông ta như người buồn ngủ. Freddy đang khoái chí cười kể
một câu chuyện gì đó cho Gabriel, vừa dùng lưng bàn tay
trái dụi mắt.
- Chào Freddy, dì Julia nói.
Freddy Malins đáp lễ dì Julia cho có lệ vì giọng vốn khó
nghe, bước nhanh băng qua phòng đến nơi ông Browne đang đứng, nhìn ông ta vừa
cười, vừa kể lại câu chuyện vui vừa kể cho Gabriel nghe.
- Hôm nay Freddy không say lắm phải không? Dì Kate hỏi Gabriel.
- Chút chút thôi, Gabriel trả lời.
- Không đến nổi gì đâu, dì Kate nói tiếp. Trước
ngày đầu năm vừa rồi mẹ anh đã bắt anh thề không uống rượu. Nhưng thôi, Gabriel mình vào phòng nhảy đi cháu.
Trước khi rời phòng với Gabriel, dì Kate nhíu mày ra hiệu
cho ông Browne và đưa ngón tay qua lại. Ông Browne hiểu ý gật đầu. Dì Kate vừa ra khỏi ông Browne
quay sang nói với Freddy.
- Tôi sẽ mời anh uống một li nước chanh cho khỏe.
Freddy khoát tay từ chối, muốn kể
tiếp câu chuyện đang kể, trong khi ông Browne nhắc Freddy sửa lại vạt áo gi-lê
vừa rót đưa tận tay Freddy một ly nước chanh đầy. Không tỏ ý quan tâm, Freddy
đưa tay trái cầm ly nước chanh, tay phải sửa lại vạt
áo cho ngay. Ông Browne tự rót cho mình một ly whiskey trong khi Freddy Malins
đặt vội ly nước chanh đầy chưa đụng môi xuống bàn đưa lưng bàn tay dụi mắt, giọng khàn khàn cười thích thú kết thúc câu
chuyện.
Phòng dạ vũ chật ních. Gabriel không chú ý thưởng thức bản đàn
Academy Mary Jane đang dạo, từng đoạn từng khúc như lên thác xuống ghềnh.
Gabriel thích âm nhạc, nhưng
Tránh ánh sáng phản chiếu xuống sàn bóng nhoáng từ chùm đèn
treo trên trần nhà Gabriel ngước mắt nhìn mấy bức tranh lông treo phía trên cây
đàn piano. Một bức minh họa Juliet đứng trên bao lơn tình tự với Romeo tả trong
cuốn Romeo và Juliet treo bên cạnh một bức khác minh họa hai vị hoàng tử bị
giết trong cuốn Tower, cả hai do dì Julia thực hiện bằng len mầu đỏ, xanh và
nâu lúc dì còn là một cô gái. Có lẽ vào thời đó ở trường người ta dạy các nữ
sinh thực hiện những tác phẩm như vậy, vì có một năm nhân sinh nhật mẹ chàng
làm cho chàng một chiếc áo gi-lê bằng nhung tím, trên có mấy đầu chồn bằng lông
nho nhỏ viền bằêng sa-tanh màu nâu, đơm nút mầu xanh lá dâu. Gabriel
lấy làm lạ không hiểu sao mẹ chàng không có khiếu âm nhạc vẫn được dì Kate xem
là người thừa kế tinh hoa của nhà họ Morkan. Dì Kate
và dì Julia lúc nào cũng tự hào về người chị nghiêm khắc của mình. Gabriel nhìn kỹ bức hình của mẹ gắn trên một khung gỗ bóng nhoáng
treo gần đó. Bà ngồi một tay đỡ một cuốn sách
mở trên đầu gối, tay kia chỉ một cái gì trên trang giấy cho
Gabriel biết bản đàn sắp dứt, Mary Jane
đang đạo lại đoạn mở đầu, lòng chàng dịu lại. Mary Jane kết thúc bản đàn, cung điệu vút
lên cao đột nhiên xuống thấp rồi tắt hẳn. Tiếng vỗ tay
vang dội trong khi Mary Jane thoải mái đậy nắp đàn đứng dậy bước ra khỏi phòng.
Mấy người trẻ tuổi nãy giờ ở bên phòng giải khát vừa trở lại phụ họa vỗ tay ròn rã nhất.
Bản nhạc tới Gabriel được xếp nhảy với cô
Ivors. Ivors là một phụ nữ trẻ tuổi ăn nói tự nhiên đến độ không giữ gìn, mặt tàn nhang và đôi
mắt nâu sắc sảo. Cô không mặc áo ngắn phủ lên trên chiếc áo đầm như các phụ nữ
khác làm hiện rõ một con bướm nhựa to tướng gắn trước cổ áo.
Điệu vũ vừa bắt đầu Ivors đột ngột nói với
Gabriel.
- Tôi có một câu đố cho anh.
- Cho tôi? Gabriel hỏi.
Cô Ivors gật đầu một cách quan trọng.
- Gì vậy? Gabriel nhìn Ivors cười, nghiêm nghị
- Ai là G.C.? Ivors trả lời, nhìn thẳng
vào mắt Gabriel.
Gabriel hơi nóng mặt, cau mày định tỏ ý
không hiểu câu hỏi của Ivors thì Ivors nói một hơi.
- Ông Amy ngây thơ ơi! Tôi biết tỏng anh
viết cho tờ Daily Express. Anh không thấy ngượng sao?
- Tại sao tôi phải ngượng, Gabriel hỏi, mắt chớp nhanh, cố
gắng giữ nụ cười trên môi.
- Vâng. Tôi thì rất ngượng cho anh, cô
Ivors thẳng thừng trả lời. Anh mà lại viết cho một tờ
báo lá cải như vậy. Tôi không thể nghĩ anh là người Ái nhĩ lan.
Vẻ lúng túng hiện trên nét mặt Gabriel. Đúng, chàng có phụ trách mục văn học mỗi
ngày Thứ tư cho tờ The Daily New, mỗi kỳ mười lăm bản Anh. Nhưng không
vì vậy mà chàng không phải là người Ái nhĩ lan. Sách
tòa báo gởi đến cho chàng để phê bình giá trị hơn mười lăm đồng mỗi kỳ nhiều.
Chàng không quên cảm giác khoái trá khi nhìn những chiếc bìa sách mới tinh và
lật những trang chữ còn thơm mùi giấy ở nhà in. Hằng
ngày sau giờ dạy họĩc Gabriel hay tạt qua mấy tiệm sách cũ bên bờ sông từ tiệm
Hickey's trên đường Bachelor's Walk, tiệm Webb's, tiệm Massey's cho đến tiệm
O'Clohussey nằm một con đường nhỏ khác. Gabriel không biết
nên trả lời Ivors sao. Gabriel muốn nói văn học trên
chính trị. Nhưng hai người vốn là bạn lâu năm, từ
những ngày học ở đại học, nay cùng đi dạy, Gabriel không muốn dùng lời lẽ quan
trọng với Ivors. Gabriel tiếp tục chớp mắt, giữ nụ
cười vô thưởng vô phạt và trả lời đại khái chàng không thấy có gì là chính trị
khi phụ trách một mục phê bình văn học.
Đến lúc cần xoay mình theo điệu vũ,
Gabriel vẫn còn bối rối. Cô Ivors vội nắm chặt bàn tay
của Gabriel nói một cách thân mật.
- Tôi chỉ nói đùa thôi. Nào hãy chuẩn bị.
Xoay xong, Ivors kể chuyện bàn tán ở
trường đại học và tại sao cô biết chuyện viết phê bình văn học của Gabriel làm
Gabriel thấy dễ chịu. Một người bạn cho
cô xem một bài nhận định về thơ Browning và cô đoán biết ngay ai là tác giả. Ivors nói cô thích bài phê bình đó. Bỗng
cô Ivors đổi đề tài.
- Này anh Connor. Mùa hè này có ra mũi
Aran chơi không? Chúng tôi ra nghỉ hè ở đó một tháng.
Mùa hè Đại tây dương đẹp lắm. Anh
nên đi. Ông Clancy cũng đến, và các ông Kilkelly,
Kathleen Kearney. Nếu Gretta cùng đi với anh thì
tuyệt. Gretta người vùng
- Hình như vậy, Gabriel đáp gọn lỏn.
- Đến nghe, hứa đi, vừa nói Ivors vừa đặt bàn tay ấm áp của cô trên cánh tay của Gabriel để thuyết phục.
- Rất tiếc, tôi đã có một chương trình nghỉ hè.
- Anh đi đâu? Ivors hỏi.
- Cô biết năm nào tôi và một số bạn cũng đi một vòng du lịch
bằng xe đạp.
- Nhưng đi đâu? Ivors nhắc lại câu hỏi.
- Thường chúng tôi đi Pháp, Bĩ hay Đức, Gabriel miễn cưỡng
trả lời.
- Tại sao anh đi Pháp và Bĩ, cô Ivors nói, trong khi nước
mình có biết bao chỗ đáng xem.
- Đúng vậy, Gabriel trả lời, nhưng một
phần để học thêm ngoại ngữ, một phần để thay đổi không khí.
- Còn tiếng Ái nhĩ lan, ngôn ngữ
của chúng ta thì sao, cũng cần được trau dồi vậy? Ivors hỏi.
- Ồ, Gabriel đáp, nếu lý luận như cô thì tôi phải thành thật
nói rằng tiếng Ái nhĩ lan không phải là ngôn ngữ của
tôi.
Nhận thấy những người đang nhảy bên cạnh chú ý đến câu
chuyện giữa hai người Gabriel lúng túng nhìn chung
quanh, cố giữ thái độ bình thản mặc dù trán ông bừng nóng.
- Anh cũng có một quê hương, Ivors tiếp tục tấn công, một
dân tộc, một xứ sở mà anh chưa biết được nhiều.
- Nói thật với cô, Gabriel trở nên khó chịu, tôi chán quê
hương của tôi lắm rồi, chán lắm.
- Tại sao? Ivors hỏi
Gabriel không trả lời, người nóng ran.
- Tại sao? Ivors gặng hỏi
Thấy Gabriel không muốn trả lời, cô Ivors nói, giọng làm hòa
- Lẽ dĩ nhiên, anh không có câu trả lời thỏa đáng.
Không muốn Ivors thấy mình bực mình,
Gabriel giả vờ chú ý nghe nhạc và nhảy một cách thích thú, tránh đôi mắt soi
mói của Ivors. Khi điệu nhạc đổi đoàn
người khiêu vũ nắm tay nhau thành một vòng tròn Ivors
nắm chặt bàn tay Gabriel và nhìn chàng đấu dịu cho đến khi Gabriel hiểu ý mĩm
cười. Nhạc lại đổi, vòng tròn trở thành từng cặp trên sàn, Ivors nhón chân nói
nhỏ vào tai Gabriel
- Anh chỉ là một người Anh trên đất Ái nhĩ
lan!
Bản nhạc dứt, Gabriel bước đến nói chuyện
với mẹ Freddy Malins đang ngồi ở một góc phòng. Bà đã già, người nhỏ con, thân hình chắc
chắn, mái tóc trắng như tuyết. Khi bà nói, lời chập
vào nhau giọng khàn khàn như Freddy. Có người cho bà biết hôm nay Freddy
có mặt và không say lắm. Gabriel hỏi thăm bà đi qua eo
biển có say sóng không. Bà ở với gia đình cô con gái tại
Gabriel thấy vợ lách giữa mấy cặp đang
nhảy vanxơ tiến về phía chàng. Đến gần nàng nói khẻ.
- Gabriel, dì Kate hỏi anh có muốn cắt thịt ngỗng như thường
lệ không. Cô Daly cắt đùi thịt lợn ướp khô, còn em cắt bánh
put-đinh.
- Được, được, Gabriel trả lời.
- Sau bản vanxơ này dì Kate sẽ nhờ mấy người trẻ tuổéi chuẩn
bị phòng ăn.
- Em có nhảy không? Gabriel hỏi
- Có. Anh không thấy em nhảy sao? Anh trao đổi gì có vẻ gay cấn với Molly Ivors vậy?
- Có gì gay cấn đâu. Sao em hỏi vậy?
Ivors có nói gì với em hả?
- Đại ý như vậy, Gretta lảng sang chuyện khác, em đang
thuyết phục ông D'Arcy hát. Em nghĩ ông ta quá tự hào giọng
hát của mình.
- Anh không tranh luận gì với cô ta cả, Gabriel trở lại câu
chuyện, cô ta mời chúng ta về miền tây Ái nhĩ lan chơi
và anh cho biết anh không đi được.
Gretta vỗ tay thích thú.
- Đi đi anh. Em muốn có dịp về thăm
- Em muốn đi thì đi, anh không đi được, Gabriel lạnh nhạt
trả lời
Gretta nhìn chồng một giây, rồi quay qua nói với bà Malins
- Thôi, tôi xin để ông chồng yêu quí của tôi hầu chuyện bà.
Nói xong Gretta lách qua sàn nhảy đầy
người bước ra khỏi phòng. Bà Marlins không tỏ ý quan tâm đến Gretta, tiếp tục nói về cảnh đẹp
ở
Gabriel chỉ nghe bà nói cho có chuyện. Khách sắp dùng cơm tối, chàng nghĩ đến
bài nói chuyện, nói gì và trích dẫn gì. Thấy Freddy
Malins đến nói chuyện với mẹ Gabriel nhường ghế cho Freddy, bước đến khung cửa
sổ, nhìn ra bên ngoài. Sàn nhảy đã vắng, một số khách
nhảy đã thấm mệt đứng thành từng nhóm nói chuyện với nhau. Phòng giải khát bên cạnh đang được dọn dẹp, tiếng bát đĩa dao nghe
lách cách sau lưng. Gabriel đưa ngón tay gõ gõ
vào kính cửa sổ. Bên ngoài trời lạnh, yên tĩnh, thật nên thơ.
Ước gì lúc này được tự do thả bộ dọc bờ sông, ra phía công viên nhìn tuyết phủ
trên cành cây và nhìn chiếc mũ tuyết trắng lớn trên pho tượng tướng
Gabriel nghĩ đến mấy điểm chính của bài nói chuyện: tính
hiếu khách của người Ái nhĩ lan, những kỷ niệm đau
buồn của đất nước, trích dẫn Browning... Gabriel lẩm bẩm câu văn chàng viết
trong mục phê bình văn học mới đây: "Đọc thơ ông như nghe một điệu nhạc bi
hùng làm tâm hồn người nghe trăn trở." Ivors khen hay. Cô ta khen thật không?
Ivors có một đời sống cho riêng cô không hay chỉ sống để rao giảng điều cô ta
tin tưởng? Giữa hai người chưa hề có chuyện bất hòa cho đến
hôm nay. Gabriel thấy khó chịu khi nghĩ đến chốc nữa
đây Ivors sẽ nhìn chàng chòng chọc với đôi mắt nghi ngờ khi chàng nói. Có thể cô ta mong chàng làm cho cử tọa thất vọng. Một ý nghĩ
thoáng qua làm Gabriel can đảm. Chàng sẽ gián tiếp nhắc đến dì Kate và dì
Julia, thí dụ như : Thưa quí vị, không phải thế hệ
trước chúng ta lúc nào cũng hoàn hảo nhưng theo tôi họ có một số đức tính như
hiếu khách, trào phúng và nhân bản mà thế hệ trẻ chúng ta hôm nay thiếu. Câu đó dành cho Ivors, nghĩ đến đó Gabriel thấy khoái trá, chàng
không quan tâm đến việc hai bà dì của chàng chỉ là hai người đàn bà tầm thường
thôi.
Gabriel chú ý đến tiếng rì rào quanh mình. Ông Browne đang đưa dì Julia bước vào
phòng.
- Tôi vừa nói với mẹ tôi tôi chưa bao giờ nghe dì hát hay
như hôm nay, chưa bao giờ! Dì có tin tôi không? Đó là sự thật. Tôi nói với danh dư,ĩ
đó là sự thật. Tôi chưa bao giờ nghe giọng của dì có hồn và trong trẻo như hôm
nay, chưa bao giờ!
- Dì Julia cười thỏa mãn, nói vài lời cám ơn và rút đôi bàn tay ra khỏi đôi bàn tay của Freddy. Ông Browne đến gần dì
Julia, khoác cánh tay phải qua lưng dì như cung cách
của một người trình hàng cho khách.
- Xin giới thiệu, Julia Morkan, một khám phá mới của tôi.
Nói xong, ông Browne thích thú cười một
mình. Freddy ngoảnh nhìn ông Browne nói,
- Anh Browne, công bình mà nói khám phá của anh không có gì
đặc sắc. Từ trước đến nay tôi chưa nghe dì Julia hát hay bằng một nửa hôm nay. Và đó là một sự thật không ai có thể chối cãi.
- Tôi đồng ý, ông Browne nói, giọng hát của dì Julia càng
ngày càng có sức lôi hút.
Dì Julia nhún vai, nói một cách tự hào
- Nếu nói về giọng hát, ba mươi năm trước cũng chưa có ai
chê giọng tôi.
- Tôi thường nói với Julia, dì Kate lên tiếng một cách dứt
khoát, Julia đã phí phạm quá nhiều thì giờ với ca đoàn.
Dì Kate nhìn mọi người tìm sự đồng tình
trong khi dì Julia nhìn phía trước một cách bâng quơ, môi hé cười như nhớ lại
những năm tháng cũ.
- Dì Kate nói tiếp, đáng ra người ta không nên khai thác
Julia như vậy, hát cho ca đoàn ngày này qua ngày khác, đêm này qua đêm khác.
Ngày lễ Giáng sinh hát từ sáu giờ sáng. Và để làm gì?
- Không phải để vinh danh Chúa sao Cô Kate? Mary Jane hỏi, quay mình trên chiếc ghế đang ngồi, nhỏ nhẹ mĩm
cười.
- Cô biết vì nhân danh Chúa, nhưng cô thấy phụ nữ hát suốt
đời sau cùng đức Giáo hoàng vẫn trọng phái nam hơn. Cứ cho rằng đức Giáo hoàng
làm theo luật giáo hội, nhưng không công bằng, Mary
Jane, không đúng.
Dì Kate còn muốn bênh em vì đó là chuyện dì ấm ức từ lâu,
nhưng Mary Jane dịu dàng nói lảng sang chuyện khác khi thấy mấy người vừa nhảy
xong bước vào phòng.
- Dì Kate, dì có biết dì làm phật lòng ông Browne không? Ông
ta tin khác.
Dì Kate quay lại nhìn ông Browne đang cười ngất vì nghe
người ta bàn đến cách tổ chức tôn giáo của mình, vội vàng nói
- Tôi không muốn nói đức Giáo hoàng sai. Tôi
là một phụ nữ tầm thường không có quyền nghĩ vậy. Nhưng
trong đời sự biết ơn và sự lịch sự tối thiểu là điều cần phải giữ. Nếu tôi là Julia tôi sẽ nói thẳng với các Cha như vậy.
- Thôi, dì Kate! Mary Jane nói, ai cũng
đang đói bụng, và khi đói người ta dễ nổi cáu.
- Và khi khát người ta cũng dễ nổi cáu như đói, ông Browne
chêm vào.
- Vậy nên đi ăn cái đã, Mary Jane
nói, sau sẽ tranh luận tiếp.
Trước cửa phòng giải khát đã dọn thành phòng ăn Gabriel thấy vợ và Mary Jane đang thuyết phục cô Ivors ở
lại dùng cơm. Nhưng Ivors đã đội mũ và đang gài nút áo choàng
không muốn ở lại. Cô không thấy đói và đã trễ đối với
cô.
- Chỉ mười phút thôi, Molly, bà Conroy nói, không trễ giờ
của cô đâu.
- Ăn một cái gì đi, Mary Jane nói,
sau khi đã nhảy nhiều như vậy.
- Tôi xin lỗi, cô Ivors nói, tôi không ở lại được.
- Tôi nghĩ cô không được vui hôm nay, Mary Jane nói một cách
thất vọng.
- Vui hơn thường lệ là đằng khác, Ivors nói, nhưng tôi phải
đi thôi.
- Nhưng cô về bằng gì? Bà Conroy hỏi.
- Chỉ đi hai bước dọc bờ sông là tới.
Do dự một chút, Gabriel nói,
- Cô Ivors, nếu cô phải về, tôi xin phép được đưa cô về nhà.
- Xem như tôi không nghe đề nghị của anh, Ivors nói lớn, nửa
đùa nửa nghiêm trang. Xin quí vị dùng cơm ngon miệng và đừng
quan tâm tới tôi. Tôi tự lo được.
- Cô thật là một người phụ nữ khó hiểu, Molly, bà Conroy
thẳng thắn nói.
- Xin chào tất cả mọi người, cô Ivors bật cười thốt lên lời
chào bằng tiếng Ái nhĩ lan và chạy nhanh xuống thang
lầu.
Mary Jane nhìn theo Ivors hơi thắc
mắc, trong khi bà Conroy nghiêng mình trên tay dựa cầu thang chờ nghe tiếng cửa
mở. Gabriel tự hỏi không biết có phải vì chàng đề nghị đưa về
mà Ivors vội vàng như vậy. Nhưng Ivors không tỏ vẻ bực
mình, cô cười vui vẻ khi ra về đôi mắt nhìn thẳng vào các bậc thang như chẳng
bận tâm điều gì.
Vào lúc đó đì Kate từ phòng ăn bước ra khoát tay hỏi một cách vội vàng.
- Gabriel đâu rồi? Thực khách chờ mà không
thấy ai cắt ngỗng cả.
- Tôi đây! Gabriel hăng hái lên tiếng tưởng chừng sẵn sàng
cắt bao nhiêu con ngỗng cũng được. Nói xong, Gabriel nhanh
nhẹn buớc vào phòng ăn.
Một con ngỗng nướng vàng rực nằm ở một đầu bàn, đầu kia một
đùi lợn muối đã bóc da, phía dưới còn dính giấy đặt trên một cái rá, trên rắc
rau thơm, hạt tiêu nghiền nhỏ và các mẫu bánh mì dòn, bên cạnh là một đĩa lớn
thịt bò ướp cay hình tròn đã được cắt thánh từng lát. Trên bàn giữa hai thức ăn
chính là các thức phụ: hai tảng thạch, một đỏ một vàng đúc hình dáng một tu
viện, một đĩa lớn đựng nhiều miếng bánh fờ-lăng, một hũ mức mầu đỏ, một đĩa
hình lá cây mầu xanh trên có nhiều chùm nho tím và hột hạnh đào lột vỏ.
Gabriel mạnh dạn ngồi xuống ở đầu bàn, một tay đặt lưỡi dao đúng vị trí, tay kia đẩy mạnh nĩa để giữ
con ngỗng quay không di chuyển được, và cắt từng lát thịt thơm phức. Gabriel
thấy hứng thú làm một việc chàng quen làm, trước chiếc bàn đầy thức ăn và mọi người đang chờ đợi.
- Cô Furlong, Gabriel hỏi, cô muốn cánh hay thân.
- Cho tôi một lát nhỏ nơi thân.
- Còn cô Higgins?
- Cám ơn ông Conroy, tôi không ăn
thịt ngỗng.
Trong khi Gabriel và Daly chuyền cho khách
các đĩa thịt ngỗng quay, đùi heo ướp muối, thịt bò ướp cay, Lily đi từ người
này đến người khác mời khoai tây nghiền nát còn nóng hỗi đặt trên một cái mâm
nhỏ lót giấy trắng. Món ăn này do ý của Mary Jane. Lúc đầu Mary Jane định mời khách ăn thịt ngỗng với nước lèo làm bằng táo nghiền, nhưng dì
Kate nói ăn ngỗng quay không cũng ngon chán. Mary Jane săn sóc mấy người học
trò, trong khi dì Kate và Julia mở bia và nước suối
mời khách. Đàn ông uống bia, các bà các cô uống nuớc
suối. Trong phòng ăn tiếng cười tiếng nói chen lẫn lời
mời mọc lẫn nhau, xin thức này thức khác, tiếng dao nĩa chạm nhau, tiếng mở nút
chai nhộn nhịp. Gabriel vẫn chưa ăn, bắt đầu cắt vòng thứ
hai. Một số người yêu cầu chàng ăn cái gì trước
khi cắt tiếp. Gabriel chưa muốn ăn, nhưng chìu ý mọi người, chàng chỉ nốc một
ngụm bia cho đả khát. Mary Jane yên lặng ngồi ăn,
nhưng dì Kate và Julia vẫn đi từ bàn này sang bàn khác mời khách, thỉnh thoảng
bảo nhau làm những điều không cần thiết. Ông Browne và
Gabriel khẩn khoản mời hai dì ăn, nhưng hai dì nói còn nhiều thì giờ. Freddy Malins không chịu được đứng dậy nhẹ nhàng kéo dì Kate đến
một chiếc ghế trống ấn dì ngồi xuống làm mọi người cười ồ.
Khi ai nấy đã no, Gabriel cười hỏi:
- Ai thích ăn các thức nhồi bụng
ngỗng cho tôi biết.
Nhiều người lên tiếng yêu cầu Gabriel ăn
đi đừng lo cho khách nữa, và cô Lily mang đến cho Gabriel ba củ khoai tây cô để
dành cho chàng.
- Cám ơn quí vị, Gabriel giọng thân mật, bây giờ xin quí vị
quên tôi đi trong một chốc lát.
Gabriel ngồi ăn ở một chỗ trống
Lily vừa dọn, trong khi câu chuyện về buổi nhạc kịch ở rạp hát hoàng gia đang
được bàn cãi sôi nổi. Bartell D'Arcy, người hát giọng cao trong buỗi dạ vũ hôm
nay, một thanh niên da ngăm đen, có một bộ râu tỉa gọn gàng, hết lời khen ngợi
người nữ ca sĩ giọng trầm, nhưng cô Furlong cho rằng cô ấy hát cũng thường
thôi. Freddy Malins khen người ca sĩ da đen đóng vai tù
trưởng có một giọng tuyệt vời ông chưa từng nghe.
- Anh nghe hắn hát bao giờ chưa? Malins
hỏi Bartell D'Arcy ngồi đối diện qua chiếc bàn ăn.
- Chưa, ông Bartell D'Arcy trả lời không chút do dự.
- Tôi hỏi, Malins giải thích, vì tôi muốn biết ý của anh đối
với giọng hát của hắn. Giọng của hắn thật là hay.
- Ai cũng muốn tìm cái hay và cái đẹp, ông Browne nói, giọng
làm hòa.
- Tại sao hắn không thể hát hay, Freddy Malins cao giọng
hỏi, hay chỉ vì hắn là người da đen duy nhất trong buổi nhạc kịch?
Không ai trả lời câu hỏi của Malins, và
Mary Jane xoay trọng tâm cuộc thảo luận về đề tài nhạc kịch. Một người học trò gởi cho cô một vé xem
vỡ nhạc kịch Mignon. Vỡ nhạc kịch thật hay làm cô nhớ đến Georgina
Burns. Ông Browne kể chuyện xa hơn về các đoàn nhạc kịch người Ý trước kia
thường đến trình diễn ở Dublin như Tietjens, Ilma de Murzka, Campanini, the
Great Trebella, Giulini, Ravella và Aramburo. Ông ta nói nếu
nói ca hát thì những ngày xa xưa đó mới thật có ca hát ở thành phố này.
Ông Browne kể rằng hồi đó tối nào rạp hát Old Royal cũng chật ních người, và có
một đêm một nam ca sĩ Ý hát năm lần bản Let Me Like a Soldier Fall mà đến lần
thứ năm khán giả vẫn còn vỗ tay, và nhiều buổi nhạc kịch hấp dẫn đến nổi mấy
người thanh niên coi trật tự nhà hát thay ngựa dích thân kéo đào hát chính về
khách sạn. Tại sao bây giờ người ta không diễn các tuồng đại
nhạc kịch như Dinorah, Lucrezia Borgia nữa? Ôâng
Browne hỏi, và tự trả lời, vì không có ai có giọng tốt như ngày đó.
- Cũng không chắc lắm, ông Bartell D'Arcy nói, tôi thấy bây
giờ vẫn có nhiều ca sĩ có tài.
- - đâu? Ông Browne hỏi một cách thách thức.
- - Luân Đôn, Ba Lê,
- Có thể, ông Browne trả lời, nhưng tôi nghi lắm.
- Trả giá nào để nghe Caruso hát tôi cũng trả, Mary Jane chen vào.
- Đối với tôi, dì Kate nói, tay với
lấy một chiếc xương ngỗng còn dính tí thịt, bây giờ chỉ có một giọng cao đáng
gọi là giọng chuông vàng, nhưng chắc chưa ai nghe đâu.
- Ai đó bà Morkan? Bartell D'Arcey lễ phép
hỏi.
- Tên ông ta là Parkinson, dì Kate nói. Lúc
còn trẻ ông Parkinson có một giọng hát thiên phú.
- Cũng lạ, Bartell D'Arcy nói, tôi chưa hề nghe danh ông ta.
- Vâng, vâng, bà Morkan nói đúng, Browne phụ họa, tôi có
nghe Parkinson hát khi ông đã già, đối với tôi ông thuộc thế hệ trước.
- Đó mới là giọng tươi vui , trong
sáng, ngọt lịm của người Anh, dì Kate nói một cách phấn khởi.
Gabriel ăn xong, đĩa bánh put-đinh
được mang qua bàn chính, tiếng nĩa muỗng lẻng kẻng chạĩm nhau. Gretta nhanh nhẹn xén bánh ra đĩa đẩy ra đầu bàn, Mary Jane bỏ thêm
vào dĩa hoặc trái mâm xôi hoặc thạch hoặc bánh fơ-lăng và mức trái cây rồi mời
từng người khách. Bánh put-đinh dì Julia làm, và thực
khách khen không tiếc lời. Dì nói nếu vàng chút nữa
thì ngon hơn.
Gabriel cữ ngọt, lấy một đĩa cần tây. Freedy Malins ăn cần tây với bánh
put-đinh. Malins đang chữa bệnh và người ta nói ăn cần
tây bổ máu. Mẹ của Malins, nãy giờ im lặng, nói tuần tới con trai bà đi chơi
núi Mellray, và mọi người quay qua nói về núi Malleray, nào không khí trong
lành, các tu sĩ tin lành hiếu khách, cho đủ thứ mà không bao giờ xin đóng góp.
- Quí vị có nghĩ rằng, Browne lên tiếng, bất cứ ai cũng có
thể đến tu viện đó như đến một khách sạn, xài cho đả rồi đi không trả một xu
nào sao?
- Ô, không, ai cũng có tặng một số tiền nào đó cho tu viện
trước khi về, Mary Jane nói
- Ước gì Giáo hội chúng ta có một cơ sở
như vậy. Ông Browne
nói một cách thành thật.
Nghe nói chuyện dòng đó tu câm không được nói, tối ngủ trong
quan tài gỗ và hai giờ sáng phải thức dậy ông Browne rất ngạc nhiên, hỏi làm
vậy để làm gì?
- Đó là luật của dòng tu, dì Kate trả lời
không thắc mắc.
- Vâng, nhưng tại sao? Ôâng Browne hỏi.
Dì Kate lặp lại rằng đó là luật, thế thôi. Thấy ông Browne còn ấm ức Freddy Malins
giải thích thêm rằng các tu sĩ tu khổ hạnh để chịu tội thay cho người khác ở
ngoài đời. Lời giải thích có lẽ không ổn đối với ông
Browne nên ông ta cười nói.
- Chịu tội thay người khác là một hảo ý, nhưng ngủ trên
giường hay ngủ trong quan tài thì khác nhau ở chỗ nào?
- Cái quan tài, Mary Jane nói, nhắc người tu sĩ nhớ đến ngày
chết.
Bàn ăn im lặng vì câu chuyện vừa tế
nhị vừa u ám. Mọi người nghe rõ tiếng bà Malins thì thầm vào tai
của người bạn ngồi cạnh.
- Mấy người tu sĩ đó tốt lắm, họ dâng tất cả cho Chúa.
Nho, hạnh đào, sung, táo, cam, chô cô la và kẹo được dọn ra,
và dì Julia hỏi thực khách dùng rượu póc-tô gốc Bồ Đào Nha hay rượu sê-ri gốc
Tây Ban Nha. Ông Bartell D'Arcy định từ chối vì không uống được hai thứ đó, một
người ngồi bên cạnh thúc cùi chỏ vào hông D'Arcy, rồi nghiêng mình nói nhỏ gì
đó, ông Bartell D'Arcy đổi ý đưa li lấy một li đầy. Li rượu
chót vừa đượĩc rót đầy, mọi người ngừng nói chuyện im lặng chờ đợi. Chỉ còn vài tiếng ho dè dặt và tiếng động chân ghế sửa lại thế
ngồi. Ba thanh niên ngồi cạnh nhau bên phải Gabriel gõ tay vào bàn ra hiệu. Căn phòng im bặt tiếng. Gabriel đẩy ghế ra sau lưng đứng dậy. Dựa mười ngón tay trên tấm vãi bàn, Gabriel mĩm cười vẻ lo âu. Thấy bao
nhiêu con mắt đổ vào mình Gabriel lảng nhìn cây đèn treo giữa trần nhà. Có tiếng đàn piano điệu vanxơ, và Gabriel nghe tiếng chân dìu nhau
nhè nhẹ trên sàn phòng bên cạnh. Chàng tưởng tượng có người đang đứng
bên bờ sông đầy tuyết nhìn lên chiếc cửa sổ có ánh sáng bên trong, lắng tai nghe điệu nhạc vanxơ. Không khí ngoài kia
quá trong lành. Xa xa là công viên cành cây tuyết trĩu nặng bên cạnh bức tượng
Gabriel bắt đầu:
- Thưa quí vị,
- Hôm nay đến phiên tôi nói, một vinh dự, nhưng thật khó cho
tôi vì tôi không có tài ăn nói.
- Không đúng đâu, không đúng đâu, ông Browne nói.
- Tôi chỉ xin quí vị rộng lượng để tôi được trình bày cảm
tưởng của tôi.
- Thưa quí vị. Đây không phải là lần đầu
tiên chúng ta gặp nhau dưới mái nhà mạnh thường quân này. Cũng không phải đây là lần đầu tiên chúng ta dược hưởng - hay nói
cách khác là nạn nhân - tính hiếu khách của mấy bà chủ nhà này.
Gabriel chấm dứt câu mở đầu bằng một vòng tay
khoát trước cử tọa. Mọi người cười tán đồng. Dì Kate,
Julia và Mary Jane mặt ửng hồng e lệ. Thêm can đảm
Gabriel tiếp:
- Thời gian càng trôi qua tôi càng cảm thấy rõ rằng tính
hiếu khách là tính mang lại cho đất nước chúng ta nhiều vinh dự và là đức tính
chúng ta trân trọng giữ gìn nhất. Truyền thống đó đặc biệt cho đất nước chúng
ta trong số các nước văn minh lân cận, ít nhất với kinh nghiệm cá nhân của tôi
qua nhiều chuyến du lịch nước ngoài. Có thể có một số người
cho rằng tính hiếu khách chỉ để bị lợi dụng. Dù vậy đi
nữa, tôi vẫn nghĩ đó là một tính cao thượng, quí báu và chúng ta vẫn muốn duy
trì. Với tôi đó là một chân lý. Chừng nào còn
mái nhà này, còn mấy người phụ nữ đáng kính kia - và tôi hy vọng còn kéo dài
nhiều năm nữa - cái truyền thống hiếu khách, lịch sự, trải lòng ra sống với
người khác của người Ái nhỉ lan mà cha ông chúng ta để lại và chúng ta sẽ
truyền lại cho con cháu vẫn còn mãi mãi.
Có tiếng rì rầm tán thưởng trong cử tọa. Gabriel thoáng nghĩ tiếc cô Ivors không có mặt, cô đã bỏ về
trước một cách thiếu xã giao khó hiểu, và chàng tiếp một cách tự tin:
- Thưa quí vi.
- Một thế hệ mới đang lên trong chúng ta với những tư duy và
nguyên tắc mới. Một chuyển biến tự nhiên, đứng đắn và đáng
khích kệ. Nhưng chúng ta đang sống trong một thời đại mà giới trẻ trăn trở và ngờ vực mọi giá trị, và tôi lo ngại rằng thế hệ
mới này với bằng cao học, tiến sĩ, thạc sĩ trong tay không còn giữ các giá trị
nhân bản, thương người và tính khôi hài của thế hệ trước. Lúc
nãy nghe quí vị nói đến các nghệ sĩ và ca sĩ nổi danh ngày trước tôi thú thật
rằng tôi có cảm tưởng không gian chúng ta sống như bị thu hẹp lại. Nói
không sợ quá lời, những ngày qua là những ngày phóng khoáng: và nếu thời gian
đi qua không kéo lại được chúng ta cũng hy vọng rằng qua những buổi gặp gỡ như
hôm nay chúng ta có cơ hội nhắc đến chúng với tự hào và trìu mến, và ghi trong
tâm khảm những người đã khuất mà tên tuổi thế giới không hề quên.
- Tuyệt! Tuyệt! Ông Browne kêu lên.
- Nhưng, Gabriel tiếp, giọng trầm xuống dịu dàng, trong những buổi gặp gỡ nhau như thế này chúng ta không khỏi thấy buồn khi nhớ lại quá khứ, tuổi trẻ, những biến đổi, và những khuôn mặt một thời quen thuộc. Đời sống mỗi người đều có những kỷ niệm buồn, nhưng chúng ta có nên đắm chìm trong những suy tư đó để quên bổn phận đối với những người chung quanh hôm nay không? Chúng ta có bổn phận với những người chung quanh và